95 năm hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ khoa học phục vụ phát triển ngành chè Việt Nam
 I. Lịch sử, hiện trạng nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ khoa học phục vụ phát triển chè.
 
1. Lịch sử và hiện trạng hình thành tổ chức nghiên cứu chè ở Việt Nam:
            Theo tài liệu Cây chè Việt Nam của PGS. Đỗ Ngọc Quĩ, từ năm 1885-1917, các tác giả nước ngoài đã tiến hành nhiều nghiên cứu về sinh thái cây chè về sản xuất, thị trường chè ở Việt Nam. Năm 1917 giáo sư Viện bảo tàng thiên nhiên Pari Auguste Chevalier trưởng phái đoàn thường trực nghiên cứu cây trồng và các vườn thí nghiệm cây trồng của Bộ thuộc địa Pháp, sau khi kiểm tra hoạt động nông lâm nghiệp ở Đông Dương đã đề xuất thành lập ‘‘Trạm nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ’’
Ngày 21-6-1918 Thống sứ Bắc Kỳ đã ký nghị định số 398 về thành lập Trạm nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ. Trong nghị định đó đã qui định nhiệm vụ của Trạm là: di thực, thuần hóa và nghiên cứu những cây trồng có hiệu quả nông nghiệp hay lâm nghiệp, nhất là những nghiên cứu liên quan đến các cây cà phê, chè, cây có dầu và cây sơn ở Bắc Kỳ. Người trại trưởng đầu tiên là ông Lã Xuân Đĩnh, tiếp theo là ông Mai Lâm, PGS Đỗ Ngọc Quĩ là người thứ 3 làm Trại trưởng năm 1947 tiếp đến năm 1984. Đây là cơ sở nghiên cứu khoa học chè đầu tiên ở Việt Nam, cũng là cơ sở  liên tục hoạt động theo đúng nhiêm vụ đã đề ra khi thành lập và ngày càng phát triển đến nay. Ngoài ra, năm 1927, thành lập Trạm thực nghiệm, nghiên cứu chè Plâycu; năm 1931 thành lập Trạm nghiên cứu nông lâm nghiệp Bảo Lộc, trong năm này cùng thành lập Trạm nghiên cứu nông lâm nghiệp Boloven (Lào); Trạm nghiên cứu chè shan tại Xiêng Khoảng (Lào); Các trạm nghiên cứu này do nhiều lý do đến nay đã không còn hoạt động.
Năm 1961 Trạm nghiên cứu Nông lâm nghiệp Phú Thọ, đổi tên thành Trại thí nghiêm chè Phú Hộ, chủ yếu nghiên cứu chè và cây sơn.
Năm 1988 Trại thí nghiệm chè Phú Hộ (Bộ Nông nghiệp) sát nhập với cơ sở nghiên cứu chè Thanh Ba (Tổng Công ty Chè Việt Nam) thành lập Viện nghiên cứu chè, trụ sở tại Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Viện Nghiên cứu Chè có chức năng nhiệm vụ: nghiên cứu khoa học, chuyển giao TBKT về cây chè, đào tạo cán bộ và công nhân cho ngành chè; cung cấp giống để trồng chè và chế biến chè; nghiên cứu kỹ thuật canh tác một số cây trồng khác trong vùng chè.
Năm 2005 Bộ Nông nghiệp & PTNT quyết định thành lập Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) trên cơ sở sáp nhập 4 đơn vị nghiên cứu trong vùng, Nhiệm vụ nghiên cứu và chuyển giao TBKT của Viện nghiên cứu chè giao cho NOMAFSI đảm nhiệm; nội dung nghiên chè chủ yếu được giao cho Trung tâm nghiên cứu & PT Chè.
            Qua 95 năm phát triển từ khi thành lập đến nay cơ sở nghiên cứu khoa học chè ở Việt Nam  có địa điểm tại Phú hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú thọ; dù qua mỗi thời kì với tên gọi khác nhau nhưng nhiệm vụ nghiên cứu chè vẫn tiếp tục phát triển. Từ đó có thể khẳng định cơ sở nghiên cứu chè tại Phú Hộ là tổ chức nghiên cứu chè đầu tiên duy nhất kế thừa tất cả các giai đoạn lịch sử, truyền thống, thành tựu nghiên cứu của tổ chức khoa học công nghệ chè Việt Nam.
 
2. Những mốc thời gian gắn liền các thành tựu nghiên cứu:
 
            a, Điều tra cơ bản:
Năm 1885- 1817 là thời kì điều tra điều kiện tự nhiên, sinh thái cây chè, sản xuất, thị trường chè ở Đông Dương và ở Việt Nam.Trên cơ sở các thông tin khoa học từ các công trình điều tra, trên cơ sở yêu cầu thực tiễn và thị trường chè cần thiết có cơ quan nghiên cứu khoa học về cây chè, nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp phát triển chè.
 
b, Nghiên cứu giống chè:
* Công trình nghiên cứu giống đầu tiên là điểu tra cây chè ở Bản Xang (1885) như dấu ấn khởi đầu công tác nghiên cứu giống chè ở Việt Nam, tiếp theo là công trình điều tra phát hiện cây chè dại ở Tam Đảo năm 1907, đó là dạng chè shan Việt Nam. Năm 1924 R Du pasquier đã báo cáo mô tả đặc điểm hình thái các biến chủng chè rừng (giống chè phou sang), là báo cáo đầu tiên của về kết quả nghiên cứu giống chè ở Việt Nam. Năm 1959 bắt đầu thí nghiệm giâm cành chè tại Phú Hộ.
* Đơn vị nghiên cứu giống chè: năm 1961 Trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã thành lập Tổ nghiên cứu giống chè, tổ trưởng Nguyễn Văn Niệm; 1988 thành lập bộ môn Giống di truyền (Viện Nghiên cứu Chè); 2006 bộ môn nghiên cứu chọn tạo và nhân giống chè - Trung tâm Nghiên cứu & PT Chè (NOMAFSI)
            * Các kết quả nghiên cứu chủ yếu về giống chè:
1961-1964; Các kết quả nghiên cứu kỹ thuật thu hoạch bảo quản hạt giống; Nghiên cứu Xây dựng nương chè sản xuất quả chè giống trung gian; Nghiên cứu Xây dựng nương chè chuyên sản xuât quả chè giống;
Năm 1964 báo cáo “Kỹ thuật giâm cành chè” được Hội đồng Khoa học Bộ Nông Nghiệp công nhận là một tiến bộ kỹ thuật mới ở Việt Nam.
            Năm 1964 bắt đầu xây dựng đề cương chọn giống chè nội dung gồm Xây dựng vườn tập đoàn giống; chọn lọc hỗn hợp; chọn lọc cá thể; lai tạo.
Năm 1964-1965 xây dựng vườn tập đoàn giống (kế thừa vườn cũ) có 27 giống;  nhập nội thêm các giống Trung Quốc, Liên Xô; đến nay đã có vườn tập đoàn 200 giống.
* Các giống mới tạo ra từ phương pháp chọn lọc cá thể gồm PH1,1A, TH3; Shan Chất tiền, Shan Tham vè, PH12, PH14;
* Các giống mới chọn theo phương pháp giống nhập nội gồm TRI 777, giống PVT, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Bát tiên, Hùng đỉnh bạch, PT95, Keo Am Tích; PH10,  PH11
* Các giống mới chọn lọc theo phương pháp lai hữu tính  LDP1, LDP2, PH8, PH9
 
c, Nghiên cứu kĩ thuật canh tác
* Công trình nghiên cứu kĩ thuật canh tác chè ở Việt Nam đầu tiên là thí nghiệm trồng chè tại Thanh ba Phú Thọ năm 1906 với tác giả Martin de flacourt; Năm 1934 F. Roule thông tin các biện pháp kĩ thuật nông nghiệp trồng chè của các đồn điền chè người Châu Âu ở An Nam (Tây Nguyên). Năm 1958-1962 nghiên cứu kĩ thuật phục hồi chè già, kĩ thuật hái chè bằng tay; Thí nghiệm kĩ thuật bón phân NPK thời gian theo dõi 12 năm (1961-1973) kết luận vai trò Kali trong nâng cao năng suất, hiệu quả, làm cơ sở khoa học để xây dựng kĩ thuật bón phân trong qui trình trồng chè Việt Nam ban hành vào năm 1980; Thí nghiệm có bón phân và không bón phân (1961-1988) theo dõi liên tục 27 năm, đã kết luận không bón phân vẫn thu 2T búp chè /ha/năm, có bón phân năng suất tăng gấp 2,5-3,0 lần so không bón phân; áp dụng kĩ thuật cơ giới hóa trong khai hoang thiết kế đồi chè bằng cơ giới hóa (1966-1972) trồng chè theo hàng đường đồng mức. Các tiến bộ Kĩ thuật về đốn phớt xanh, sửa bằng trên nương chè trung du trên 20 tuổi nâng cao nắng suất; Kĩ thuật đốn chè kiến thiết cơ bản với các giống chè mới trồng bằng cành. Các tiến bộ kĩ thuật về đốn, hái chè bằng máy được áp dụng rộng rãi trong sản xuất; kĩ thuật thâm canh tổng hợp các giống chè mới đạt năng suất cao (35 T/ha với chè PH1; 28 T/ha với giống LDP2); Qui trình sản xuất chè theo VIET GAP...
 
d, Nghiên cứu phòng chống sâu bênh cỏ dại hại chè
* Nghiên cứu phòng chống sâu bệnh hại đầu tiên
            Năm 1932- 1933 Dup Pasquier R đã biên soạn cuốn "Những sâu bệnh chủ yếu của cây chè và cây café ở Viễn Đông xác định có 35 loài sâu hại chè phát sinh chủ yếu vào Tháng 3 - 5 và 9 - 11.
* Tổ chức nghiên cứu bảo vệ Thực vật đầu tiên
1960 Trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã thành lập bộ môn Bảo Vệ Thực vật - ông Nguyễn Khắc Tiến là Trưởng bộ môn; 1988 bộ môn Bảo Vệ Thực vât - Viện nghiên cứu Chè; năm 2013 bộ môn công nghệ và bảo vệ thực vật - NOMAFSI.  
* Các kết quả nghiên cứu chủ yếu  
1960-1961 nghiên cứu phòng trừ bọ xít muỗi hại chè; Bệnh sùi cành (Bacterium sp?); 
1963-1964 nghiên cứu phòng trừ bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans Masse); Năm 1964-1970 nghiên cứu phòng trừ rầy xanh; Đã phát hiện 5 loài nhện   hại cây chè, nguy hiểm nhất là nhện đỏ nâu (Oligonychus Coffeae Niet) và nhện đỏ tươi (Brevipalpus Californicus Banks); (1965–1966)  xác định loại sâu ăn lá chè có sâu róm (Euproctis pseudoconspersa Strand). Bệnh thối búp chè (Colletotrichum theae Petch). Nghiên cứu phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại chè trong sản xuất;
Điều tra phân loại cỏ dại hại chè, đã  xác định có trên 50 loài cỏ dại phân ra 2 nhóm, cỏ dại nhiều năm và cỏ dại 1 năm.
 
e,  Nghiên cứu Sinh hóa chế biến
* Nghiên cứu sinh hóa đầu tiên 1940 được thực hiện bởi E.castagnol và Đoàn Bá Phương; 1925 xây dựng nhà máy chế biến chè đen đầu tiên ở Phú hộ mở đầu cho thời kì áp dụng công nghiệp trong sản xuất; Năm 1938 P.Remond và Nguyễn Văn Đàm tạo cối vò bằng gỗ do trâu bò kéo mở đầu cho nghiên cứu cải tiến thiết bị chế biến chè; Năm 1954 xây dựng xưởng thực nghiệm chè xanh tại Phú Hộ; Năm 1957-1958 nhà máy chè Thanh Ba - Phú Thọ bắt đầu sản xuất, phòng thí nghiệm kiểm tra sản xuất được thành lập do kỹ sư Hồ Công Đính phụ trách, được các chuyên gia Liên xô hướng dẫn chuyên môn.
* Tổ chức nghiên cứu sinh hóa chè đầu tiên
Năm 1961,Trại thí nghiệm chè Phú Hộ thành lập phòng thí nghiệm phân tích sinh hóa về giống chè và một số cây trồng khác  do kỹ sư Vũ Kim Tường phụ trách.
            Năm 1973 thành lập tổ sinh hóa, phân tích các hợp chất sinh hóa các giống chè làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu công nghệ chế biến; gồm phòng phân tích và xưởng thực nghiệm chè xanh, do TS.Trịnh Văn Loan làm tổ trưởng. Năm 1985 thành lập 2 bộ môn Sinh hóa và Bộ môn Công nghệ -Viện nghiên cứu chè Thanh Ba; năm 1988 Bộ môn Sinh hóa và Bộ môn Công nghệ sản phẩm mới -Viện nghiên cứu chè Phú Hộ. Năm 2006 Viện NOMAFSI giao nhiệm vụ, nghiên cứu Sinh hóa chè do Phòng phân tích Chất lượng nông lâm sản; phần công nghệ chế biến do Bộ môn Công nghệ sau thu hoạch đảm nhiệm, phần nghiên cứu sinh hóa, công nghệ chế biến các sản phẩm giống chè mới do Bộ môn sinh hóa chế biến giống chè mới (Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè -NOMAFSI).  
* Những kết quả đạt được
            Nghiên cứu thành phần hóa học trong búp chè giống Trung du ở Phú Thọ bởi các tác giả Zalishvili L.A và Xardveladze G.P; Nghiên cứu thành phần hóa học trong các giống chè chọn lọc.
            Năm 1973 Viện sĩ thông tấn Liên xô Djemukhatdze K.M khảo sát các vùng chè Shan cổ thụ ở Yên Bái, Hà Giang. Tác giả kết luận miền Bắc Việt Nam là cái nôi quê hương của cây chè (cây chè miền Bắc Việt Nam - 1976).
            1979-1981 điều tra khảo sát nghiên cứu chất lượng các giống chè trồng phổ biến ở các vùng chè như Vĩnh Phú, Bắc Thái, Hà tuyên, Mộc Châu, Hoàng Liên Sơn và  Lâm Đồng.  
            Đã nghiên cứu quy trình công nghệ chế biến chè đen từ giống chè PH1; năm 1977 Nghiên cứu công nghệ sản xuất chè hòa tan xanh và đen bằng phương pháp sấy phun; năm 1998 nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất chè đen cánh nhỏ xuất khẩu; 1999 nghiên cứu công nghệ làm héo chè đen trên máng héo, (2005) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men chè đen theo phương pháp gián đoạn và liên tục; (2011) đã nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất chè xanh dạng viên, chè xanh sợi dạng chè mao tiêm. (2012) đã công bố chuyển giao tiến bộ kỹ thuật 5 quy trình kỹ thuật chế biến chè như: quy trình chế biến chè vàng, chè Phổ nhĩ từ giống chè Shan vùng cao, tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, quy trình công nghệ chế biến chè Ô-long từ giống Kim tuyên;Năm 1998 đã nghiên cứu công nghệ chế biến nước giải khát xiro và đồ uống có tác dụng dược liệu (phylamin,  ngưu tất, hà thủ ô) từ chè cấp thấp và phế liệu trong công nghiệp chế biến chè.   (2012) nghiên cứu công nghệ sản xuất nước giải khát từ chè có ứng dụng công nghệ sinh học. Kết quả nghiên cứu đã tạo ra sản phẩm nước chè Phổ nhĩ đóng chai từ chè Shan lên men.
 
            3. Hiện trạng và những thành tựu về đào tạo cán bộ khoa học phục vụ sản xuất phát triển chè
 
a, Đào tạo ngoài nước :
- Tại Trung quốc 
Năm  1956-1960:  Nguyễn Văn Niệm được cử sang Trung quốc học trung cấp chè, tại Đồn Khê, tỉnh An Huy.
Năm 1961-1962 Nguyễn Ngọc Kính học Hệ sau đại học, tại học viện Nông học Hoa Nam, Quảng Châu
Năm 1964 Đỗ Ngọc Quỹ được cử sang đào tạo ngắn hạn Tiến tú sinh, tại Hàng Châu –Triết Giang
- Tại Liên xô (cũ) Trường Đại học NN Á  nhiệt đới Gruzia
Năm 1968-1972Trịnh Văn Loan NCS ngành Sinh hóa chế biến chè
Năm 1969-1973 Nguyễn Ngọc Kính NCS ngành trồng trọt cây chè, đến nay đã có 6 TS ngành trồng trọt, 6 TS ngành chế biến được đào tạo tại Liên xô (cũ)
 
b, Hợp tác quốc tế :
Việt Nam đã  quan hệ hợp tác với các viện Nghiên cứu chè Hàng châu,  Quảng Đông, Vân Nam, Đài loan (Trung Quốc) Nhất bản, Srilanka, Viện cây trồng á nhiệt đới (Gruzia); các tổ chức hợp tác quốc tế Pháp AFD và nhiều tổ chức quốc tế khác. ..
 
c,   Đào tạo trong nước :
            * Tại Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội :  
            Vào năm 1956, giảng dạy cây chè chủ yếu do Khoa Nông học (ngày nay) đảm nhiệm, theo thời gian khoa nông học trải qua nhiều tên gọi khác nhau, 1956: Khoa Trồng trọt; Năm 1963-1970: Khoa Trồng trọt chia làm hai khoa là Khoa Cây công nghiệp và khoa Cây lương thực; Năm 1970-1978: Khoa Cây công nghiệp và Cây lương thực sát nhập trở lại thành Khoa Trồng trọt;  Năm 1978- 1984: Khoa Trồng trọt chia làm ba khoa: Khoa Bảo vệ thực vật – Dâu tằm,   Khoa Cây trồng và Khoa Quản lý ruộng đất; Năm 1984-1997: Khoa Bảo Vệ Thực Vật – Dâu Tằm và khoa Cây Trồng sát nhập thành khoa Trồng Trọt; Năm 1997 Khoa chính thức đổi tên thành khoa Nông học với 3 chức năng nhiệm vụ chính trong đó Khoa Nông học có số sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thực hiện các đề tài nghiên cứu về cây Chè cao nhất trong các khoa của trường.ngoài ra còn các khoa công nghệ thực phẩm; khoa kinh tế; khoa kế toán và quản trị kinh doanh cũng tham gia đào tạo cán bộ khoa học về chè.
 Tài liệu giảng dạy về cây chè đã được các giảng viên của trường đại học Nông nghiệp Hà Nội biên soạn ở dạng các bài giảng và giáo trình qua các thời kì như sau:
-         Từ năm 1956 -1967: Bài giảng cây chè do GS Vũ Công Hậu  biên soạn.
-         Năm 1967: Giáo trình cây chè do KS Nguyễn Tâm Đài  biên soạn
-         Năm 1979: Giáo trình cây chè do GS.TS Nguyễn Ngọc Kính biên soạn
-         Ngăm 1996. Phần Cây chè trong giáo trình Cây Công nghiệp do TS Nguyễn Văn Bình biên soạn
-         Năm 2002: Bài giảng cây chè dành cho học viên cao học do TS Nguyễn Đình Vinh biên soạn
Kết quả sau 55 năm  trường Đại học Nông nghiệp đã tham gia đào tạo cho 850 sinh viên chính quy làm các đề tài thực tập và nghiên cứu về cây chè (trong đó có hơn 400 sinh viên của khoa Nông học, 450 sinh viên của các khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn. Khoa Quản trị Kinh doanh và khoa Công nghệ thực phẩm.
Có 110 học viên cao học đã thực hiện các đề tài, luận văn nghiên cứu về cây chè,   15 nghiên cứu sinh nghiên cứu về cây chè đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ các chuyên ngành Trồng trọt, Bảo vệ thực vật, Di truyền và chọn giống cây trồng,   Công nghệ thực phẩm, Kinh tế Nông nghiệp, Quản trị, kinh doanh Nông nghiệp,   Khoa học đất,  Nông hóa 
 
      Các kết quả nhiên cứu khoa học:
            Năm 1979-1981 chủ trì hai đề tài nhánh nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cây chè ở Việt Nam (MS 020607);  Nghiên cứu các mô hình quản lý sản xuất cây chè ở Miền bắc (020610).
* Đào tạo Tại Viện Khoa học Kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam (hiện nay là Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam)
Chủ yếu đào tạo cán cán bộ có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ, thống kê  từ năm 1988 đến nay Viện đã đào tạo được 12 tiến sỹ, 10 thạc sỹ về chè cung cấp lực lượng cán bộ chủ yếu cho cơ quan nghiên cứu chè, các cơ quan quản lý, tổng công ty và hiệp hội chè Việt nam. Luận án Tiến sỹ đào tạo trong nước đầu tiên về cây chè TS Đỗ Văn Ngọc, năm  1992 
* Đào tạo Tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên :Giảng dạy cây chè do khoa trồng trọt đảm nhiệm, từ 2007 đến nay nhà trường đã đào tạo 76 kĩ sư làm đề tài tốt nghiệp về chè; cũng trong thời gian đó nhà trường đã đào tạo 15 cán bộ làm luận văn ,luận án tốt nghiệp về các đề tài nghiên cứu chè .
* Trường Đại học Bách khoa Hà Nội – đào tạo nhiều thế hệ cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học và sau đại học cho ngành chè.
            Khóa 4 (1960 – 1964) là khóa đầu tiên đào tạo kỹ sư chuyên ngành Công nghệ chè do Thầy Ngô Hữu Hợp, đến năm 1966, trường ĐHBK Hà Nội đã đào tạo được 19 kỹ sư chuyên ngành chè.  
Năm 1966, trường Đại học Công nghiệp nhẹ tiếp tục sứ mệnh đào tạo tất cả kỹ sư thực phẩm cho miền Bắc lúc ấy. Trong đó bộ môn Cây nhiệt đới đào tạo các kỹ sư thuộc lĩnh vực: chè, cà phê,  thuốc lá, tinh dầu, dầu thực vật.
            Đặc biệt khóa 11(1967 – 1971), trường ĐH Công nghiệp nhẹ đã làm lễ tốt nghiệp cho 18 kỹ sư công nghệ chè. Năm 1976, trường ĐH Công nghiệp nhẹ giải thể để sát nhập trở lại trường ĐH Bách khoa Hà Nội.Trong 9 năm, từ 1976 đến năm 1990 trường Đại học Bách khoa đã đào tạo thêm được 72 kỹ sư chuyên ngành công nghệ chè. 
Kể từ khóa 4 (năm 1960) đến khóa 30 (năm 1990), trường Đại học Bách khoa đã có 27 khóa liên tục đào tạo và cho ra trường 196 kỹ sư chuyên ngành công nghệ chè.
Đào tạo đại học tại chức, Số kỹ sư tại chức chuyên ngành cơ khí và công nghệ chè do ĐHBK đào tạo ước tính khoảng 55 người.
Đào tạo hệ Cử nhân Cao đẳng Kỹ thuật, 1992 đến 1998, số sinh viên cao đẳng tốt nghiệp ngành công nghệ chè đã lên tới 972 người. 
            Đào tạo sau đại học, trường đã đào tạo được 6 Tiến sỹ; đã đào tạo được 8 Thạc sỹ cho ngành chè.
 
II. Bài học kinh nghiệm rút ra sau 95 năm nghiên cứu và đào tạo
* Bài học thành công :
1. Coi trọng nghiên cứu điều tra, phân tích điều kiện tự nhiên, tôn trọng qui luật tự nhiên để  xác định chính xác địa điểm, xây dựng định hướng nghiên cứu xác định chức năng nhiệm vụ của cơ sở nghiên cứu khoa học về chè ở Việt nam, là yếu tố quyết định để hình thành và phát triển cơ sở nghiên cứu chè Việt Nam.
2. Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, lợi thế so sánh, yêu cầu kinh tế xã hội và thị trường của sản phẩm để xây dựng nội dung, chương trình nghiên cứu,   phương pháp nghiên cứu chè hiệu quả; phát huy kiến thức bản địa với áp dụng sáng tạo kĩ thuật tiên tiến thế giới.
3. Thị trường là căn cứ quyết định để  nghiên cứu lựa chọn giống, công nghệ sản xuất,  sản phẩm chè.
4. Kết hợp đào tạo trong nước, đào tạo ngoài nước, kết hợp đào tạo trong nhà trường, trong tài liệu gắn với thực tế sản xuất trên đồi nương và trong nhà máy; kết hợp truyền thụ lý thuyết với các kinh nghiệm sản xuất của các nghệ nhân sản xuất.  
* Bài học chưa thành công :
1. Chưa giải quyết hài hòa giữa nội dung nghiên cứu ngắn hạn để  đáp ứng yêu cầu bức thiết của sản xuất với yêu cầu nghiên cứu cơ bản chiến lược định hướng ,dài hạn vững chắc ;kết quả nghiên cứu khoa học chưa góp phần tạo đột biến ,chưa tạo ra nền tảng khoa học vững chắc trong phát triển sản xuất chè ở Việt Nam .
2. Chưa quan tâm đầy đủ đến nghiên cứu cơ bản, khai thác lợi thế so sánh, tổ chức quản lý sản xuât, mở rộng thị trường của sản phẩm chè Việt Nam - đối tượng cây công nghiệp lâu năm trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế,vì vậy trong quản lý sản xuất đã chia cắt vùng nguyên liệu vơí nhà máy chế biên, với thị trường. Sản xuất, tiêu thụ manh mún chất lượng hàng hóa thấp, khó kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng, chưa khai thác tiềm năng sản xuất chè Việt Nam.
3. Cán bộ đào tạo nhiều nhưng giáo trình ít cập nhật thông tin, kết kợp giảng dạy với thực tế sản xuất chưa phù hợp dẫn đến kĩ năng cán bộ thấp hiệu quả chưa cao; giáo trình giảng dạy cao hoc, các luận án, luận văn ít chú ý đến các cơ sở khoa học, ít lý giải, phân tích khoa học mà là nặng về mô tả các giải pháp thực tế, chưa có đóng góp nhiều cho cơ sở khoa học cho xây dựng các giải pháp thay đổi công nghệ,  thiết bị, tổ chức sản xuất và thị trường.
4. Nội dung, nhiệm vụ các cơ sở nghiên cứu giảng dạy thay đổi nhiều theo yêu cầu hành chính nhiều hơn là thay đổi theo đòi hỏi của khoa học, thực tiễn, thị trường; chưa gắn kết giữa hoạt động nghiên cúu khoa học với hoạt động giảng dạy và đào tạo; chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất, thị trường để đề ra nhiệm vụ đào tạo.
 
III. Phương hướng nghiên cứu, đào tạo cán bộ khoa học
1. Coi trọng những nghiên cứu điều tra, nghiên cứu cơ bản gắn với yêu cầu thực tế sản xuất và thị trường để đề xuất các giải pháp hiệu quả trong sản xuất.
2. Quan tâm nhiều hơn các nội dung nghiên cứu có tổng hợp, đa lĩnh vực, đồng bộ, liên hoàn đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, đa dạng sản phẩm, đa dạng thị trường, hiệu quả sản xuất, phát triển bền vững vùng chè
3. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cần xây dựng nội dung nghiên cứu chuyển giao, sản xuất thử trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu với đào tạo, du lịch sinh thái, văn hóa theo chuỗi sản xuất phát triển chè ở Việt Nam; Phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học chè, các tổ chức đào tạo, các cơ sở sản xuất, các hiệp hội và người sản xuất, khai thác có hiệu quả cây chè Việt Nam.
4. Chú trọng đào tạo phổ cập kiến thức kĩ thuật với đào tạo chuyên gia sâu cho các lĩnh vực mà sản xuât yêu cầu
5. Chú trọng công tác thông tin khoa học, xuất bản sách, các tài liệu, ấn phẩm về chè; đào tạo tập huấn chuyển giao công nghệ chè trong sản xuất chè
6. Hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, đào tạo; trao đổi thông tin khoa hoc, công nghệ, thị trường. 
 
TS. Đỗ Văn Ngọc
Print  
Tin mới nhất

Các tin khác